NÓI CHUYỆN NGÔN NGỮ: BỤNG - Nguyễn Hưng Quốc


Trong văn hoá Việt Nam, vùng bụng có một tầm quan trọng rất đặc biệt.

Tầm quan trọng ấy có thể được nhìn thấy rõ nhất ở cách dùng các ẩn dụ. Nếu trong tiếng Anh hay trong chữ Hán, chữ trái tim, chữ heart hay chữ tâm 心 được mở rộng thành một cái gì chính, nằm giữa, như chữ heartland là khu vực chính, nằm giữa và quan trọng nhất trong một vùng nào đó, được dịch ra chữ Hán là khu trung tâm, thì trong tiếng Việt, để biểu thị một ý niệm tương tự, người ta lại dùng chữ lòng hay lỗ rốn, một bộ phận của bụng. Phần giữa bàn tay: lòng bàn tay; phần giữa căn nhà: lòng căn; phần giữa cái chảo: lòng chảo; phần giữa dòng sông: lòng sông, v.v.. Ngoài ra, chúng ta hay có những cách nói như cái rốn của thành phố, cái rốn của một nước, và rộng hơn nữa, cái rốn của vũ trụ.

Cũng liên quan đến khía cạnh ẩn dụ, chúng ta biết trong phần lớn các ngôn ngữ khác, từ tiếng Hoa đến tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, v.v., người ta đều dùng hình ảnh trái tim để làm biểu tượng cho tâm hồn, cho tư tưởng và cho tình cảm. Tình yêu ở trong trái tim; niềm vui và nỗi buồn cũng ở cả trong trái tim. Sự chung thuỷ người ta để trong tim, tất cả những bí mật cũng đều được chôn kín trong trái tim.

Trong tiếng Việt thì ngược lại. Với chúng ta, trung tâm của tư tưởng và tình cảm là phần bụng, bao gồm bụng và bộ phận chính trong bụng là lòng. Lòng, nguyên là từ gốc Mường, có nghĩa là ruột. Dạ cũng là ruột. Do đó, bốn chữ bụng, lòng, dạ và ruột xem như đồng nghĩa với nhau. Người khác nghĩ thầm trong đầu, chúng ta thì nghĩ thầm trong bụng. Trong các ngôn ngữ khác, một người thông minh là một kẻ có đầu óc nhạy bén, còn trong tiếng Việt, đó là một kẻ sáng dạ. Tình yêu cũng như vui buồn hờn giận người khác giấu trong trái tim, còn chúng ta thì để bụng. Yêu nhau, chúng ta nói là “phải lòng nhau”. Giận nhau, chúng ta nói là “mất lòng nhau”. Một người tốt, trong tiếng Anh là kẻ có trái tim tốt, a kindhearted person, trong tiếng Việt, là kẻ tốt bụng. Nhớ cái gì, đối với người nói tiếng Anh, là ấn sâu cái đó vào trong tim, là learn by heart, đối với người Trung Hoa, là làm cho nhập tâm, nhập vào trái tim, còn đối với người Việt Nam, là nhồi vào trong bụng, là nhớ thuộc lòng.

Chính vì thế, khi đi thi, để kiểm tra lại kiến thức của mình, Tú Xương đã không sờ vào trong đầu hay sờ vào trái tim mà là sờ vào bụng: “Tiễn chân cô mất ba đồng lẻ / Sờ bụng thầy không một chữ gì.” Cuối cùng, thi hỏng; thay vì than như người nói tiếng Anh là “tan nát cả trái tim”, là heart-broken, Tú Xương lại thấy đau trong bụng: “Bụng buồn còn biết nói năng chi / Đệ nhất buồn là cái hỏng thi.”

Ưu thế của chữ bụng và chữ lòng so với chữ tâm hay trái tim thể hiện rõ nhất có lẽ trong cuốn Truyện Kiều của Nguyễn Du. Một chủ đề quan trọng của cuốn truyện thơ lỗi lạc ấy là nhằm đề cao cái tâm, đề cao tấm lòng của con người. Thế nhưng trong 3254 câu thơ của Truyện Kiều, chữ tâm lại xuất hiện một cách hoạ hoằn. Chỉ có hai lần, trong hai câu thơ khác nhau. Một lần là “chữ tâm càng dập càng nồng” và một lần khác là “chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”. Là hết. Trong khi đó thì Nguyễn Du dùng chữ dạ đến sáu lần, từ “Tình càng thấm thía, dạ càng ngẩn ngơ” đến “Mấy lời ký chú đinh ninh / Ghi lòng để dạ, cất mình ra đi.” Ngay câu nói phân bua về việc ghen tuông của Hoạn Thư, “Rằng tôi chút phận đàn bà” cũng có một số bản ghi là “Rằng tôi chút dạ đàn bà”. Ngoài chữ dạ, trong Truyện Kiều còn có mười hai chữ ruột được dùng để chỉ tính tình và cảm xúc, chẳng hạn, “Tai nghe ruột rối bời bời” hay “Tơ tình đứt ruột, lửa phiền cháy gan”. Nhưng trong Truyện Kiều, xuất hiện nhiều nhất là chữ lòng. Nó xuất hiện đến 165 lần khác nhau. Nào là “Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”, nào là “lòng đâu sẵn mối thương tâm”, nào là “Đã lòng hiển hiện cho xem / Tạ lòng, nàng lại nối thêm vài lời”

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét